Giá tiêu hôm nay (20/11) ghi nhận ở mức trung bình 138.700 đồng/kg giảm mạnh -700đ so với hôm qua. Cơ cấu xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang có những thay đổi rõ rệt, với sự gia tăng đáng kể của tiêu xay, trong khi tỷ trọng tiêu nguyên hạt có xu hướng giảm dần.
.png)
Giá tiêu trong nước
| Khu vực | Giá trung bình | Thay đổi |
| Gia Lai | 138,000 | -1,000 |
| Bà Rịa - Vũng Tàu | 138,000 | -1,000 |
| Đắk Lắk | 139,500 | -500 |
| Bình Phước | 138,500 | -500 |
| Đắk Nông | 139,500 | -500 |
- Giá tiêu xô tính theo đầu giá
- Đơn vị tính: VNĐ/kg
Theo khảo sát mới nhất, giá tiêu tại khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ hôm nay dao động trong khoảng 138.000 - 139.500 đồng/kg. Cụ thể, tại tỉnh Đắk Lắk, giá thu mua tiêu đã được điều chỉnh giả -500 đồng/kg, đạt mức 139.500 đồng/kg. Trong khi đó, tại Đắk Nông, giá ghi nhận ở mức 139.500 đồng/kg giả -500đ so với hôm trước. Ở Gia Lai, giảm mạnh -1.000đ, giá ghi nhận 138.000 đồng/kg. Tương tự giá cũng giảm -1.000đ tại Bà Rịa-Vũng Tàu với giá 138.000. Còn tại Bình Phước giá giảm nhẹ -500đ ở mức 138.500 đồng/kg.
Giá tiêu thế giới
| Thị trường | USD/Tấn | Thay đổi | VNĐ/kg (*) |
| Indonesia - Black Pepper | 6,470 | -0.09 | 164,979 |
| Indonesia - White Pepper | 9,055 | -0.09 | 230,894 |
| Brazil Black - Pepper ASTA 570 | 6,000 | 0 | 152,994 |
| Malaysia - Black Pepper ASTA | 8,400 | 0 | 214,192 |
| Malaysia - White Pepper ASTA | 10,500 | 0 | 267,740 |
| Viet Nam - Black Pepper 500 g/l | 6,200 | 0 | 158,094 |
| Viet Nam - Black Pepper 550 g/l | 6,500 | 0 | 165,744 |
| Viet Nam - White Pepper ASTA | 9,400 | 0 | 239,691 |
- Đơn vị tính: USD/tấn
- Mức thay đổi: %, so với ngày trước đó
- Nguồn: Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế
Trên thị trường quốc tế, Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) giữ nguyên mức giá tiêu đen của các quốc gia trong phiên giao dịch gần nhất. Cụ thể, tiêu đen từ Lampung (Indonesia) có giá 6.470 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 được niêm yết ở mức 6.000 USD/tấn, còn tiêu đen Kuching (Malaysia) có giá 8.400 USD/tấn.
Đối với xuất khẩu tiêu đen của Việt Nam, giá tiêu đen 500 g/l và 550 g/l dao động trong khoảng từ 6.200 - 6.500 USD/tấn, tùy thuộc vào chất lượng và yêu cầu của thị trường.
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok (Indonesia) đạt mức 9.055 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu trắng Việt Nam và tiêu trắng Malaysia đang được giao dịch với mức cao hơn, lần lượt là 9.400 USD/tấn và 10.500 USD/tấn.
Giá tiêu Ấn Độ
| Loại tiêu | Rupee/tạ | Thay đổi | VNĐ/kg (*) |
| GARBLED | 64,400 | -400 | 200,961 |
| Gram/lít | 61,400 | -400 | 191,599 |
| UNGARBLED | 62,400 | -400 | 194,720 |
- Đơn vị tính: Rupee (INR)/tạ
- Thay đổi: Rupee (INR)/tạ, so với ngày trước đó
Tin tức hồ tiêu
Theo báo cáo từ Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 10 tháng đầu năm, cơ cấu chủng loại hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam đã có những thay đổi đáng chú ý. Một trong những sự thay đổi lớn là sự gia tăng mạnh mẽ của tiêu xay, trong khi tiêu nguyên hạt xuất khẩu có xu hướng giảm.
Cụ thể, tiêu đen nguyên hạt vẫn là mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam, với tổng khối lượng đạt 159.938 tấn, chiếm tỷ lệ 72,9% trong tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu tiêu đen nguyên hạt đã giảm 9,3%, điều này cho thấy sự thay đổi trong xu hướng tiêu thụ hồ tiêu trên thị trường quốc tế.
Đối với tiêu trắng nguyên hạt, xuất khẩu cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 1,8%, đạt 16.639 tấn và chiếm 14,8% tổng xuất khẩu. Đồng thời, lượng tiêu đen ngâm giấm, mộc, đầu đinh, tiêu xanh, tiêu hồng cũng giảm 6,4%, phản ánh xu hướng tiêu thụ giảm đối với các chủng loại tiêu này.
Ngược lại, xuất khẩu các sản phẩm tiêu đã chế biến, đặc biệt là tiêu đen xay, đã có sự tăng trưởng ấn tượng. Lượng tiêu đen xay xuất khẩu đạt 32.464 tấn, tăng trưởng 42,3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 14,8%. Tương tự, tiêu trắng xay cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 8.853 tấn, tăng 46,1% và chiếm 4% tỷ trọng xuất khẩu.
Nhờ vào sự gia tăng xuất khẩu tiêu xay và các sản phẩm chế biến khác, tỷ lệ xuất khẩu hồ tiêu nguyên hạt hiện chiếm khoảng 80,5%, trong khi tỷ lệ xuất khẩu tiêu đã chế biến (xay và các sản phẩm chế biến khác) chiếm khoảng 19,5%. Sự thay đổi này phản ánh xu hướng tiêu thụ các sản phẩm giá trị gia tăng cao hơn trên thị trường quốc tế.
Theo thống kê từ VPSA, hiện nay Việt Nam có khoảng 200 doanh nghiệp tham gia vào việc chế biến và kinh doanh hồ tiêu. Trong đó, 15 doanh nghiệp hàng đầu chiếm khoảng 70% tổng lượng xuất khẩu của cả nước. Ngoài ra, ngành hồ tiêu cũng có 14 nhà máy chế biến sâu, trong đó có 5 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, chiếm gần 30% thị phần xuất khẩu.
Công nghệ chế biến hồ tiêu tại Việt Nam đã được cải thiện và tiếp cận được các tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào công nghệ chế biến cao cấp, đáp ứng các tiêu chuẩn như ASTA, ESA, JSSA, và sản xuất các sản phẩm đa dạng như tiêu đen, tiêu trắng nguyên hạt, tiêu nghiền bột và tiêu đóng gói nhỏ. Tuy nhiên, tổng thể ngành hồ tiêu Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô với giá trị thấp hơn so với các quốc gia sản xuất hồ tiêu lớn khác như Ấn Độ và Malaysia.
Để tăng giá trị sản phẩm và cải thiện vị thế của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới, VPSA khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, chế biến sạch, nâng cao chất lượng từ khâu trồng trọt và đa dạng hóa sản phẩm. Bên cạnh đó, việc mở rộng thị trường và thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng hồ tiêu toàn cầu cũng là một yếu tố quan trọng để ngành hồ tiêu Việt Nam có thể cạnh tranh mạnh mẽ hơn với các quốc gia xuất khẩu khác.
>>>Tham khảo thêm:
Giá hồ tiêu hôm nay| cập nhật giá hồ tiêu liên tục hàng ngày
